Sự tích, ý nghĩa hình tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát

Tượng Quan Âm bằng đá

Quán Thế Âm Bồ Tát ( Quan Thế Âm Bồ Tát ) hay còn gọi là Quan Âm Bồ Tát là hình tượng thân thiết, gần gũi nhất với hầu hết tín đồ Phật giáo. Quan Thế Âm Bồ Tát là biểu tượng của lòng đại từ, đại bi phổ độ chúng sanh. Hầu hết các tín đồ Phật giáo đều quy hướng về Ngài như một tấm gương sáng để tu tập, để được chở che, dắt dẫn.

Nguồn gốc, sự tích của Quán Thế Âm Bồ Tát

Sự tích mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát

Về thuở xa xưa về trước, thời đức Phật Bảo Tạng Như Lai ra đời, có vua Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật. Nhà vua liền sắm đủ lễ vật cúng dường cho đức Phật và chư Tăng trong ba tháng hạ. Vua cũng khuyến khích các triều đình quyến thuộc và các quan trong triều theo vua cúng dường. Thái tử Bất Huyền vâng lệnh vua cha, hết lòng thành kính cúng dường Đức Phật và Tăng chúng.

Lúc ấy, thân phụ của Phật Bảo Tạng là vị đại thần tên là Bảo Hải khuyên thái tử Bất Huyền nên lập nguyện nhờ công đức cúng dường này mà cầu quả báu Vô thượng Bồ đề, để phước báu này được vĩnh hằng. Thái tử liền đến trước Phật Bảo Tạng phát đại thệ nguyện: “Nguyện xin nhờ công đức cúng dường này cầu quả vô thượng bồ đề. Con nguyện xin trong lúc tu đạo tự lợi, lợi tha, nếu có chúng sinh nào lâm vào tai nạn, không thể tự cứu chữa được, không nơi nương nhờ, hễ niệm đến danh hiệu con, con liền đủ sức thần thông đến cứu độ ngay. Nếu lời nguyện ấy không thành, con thề không chứng quả Bồ đề. Con xin phát đại thệ nguyện tu đạo Bồ Tát cho đến cùng tận đời vị lai, trãi qua vô số kiếp, khi phụ vương con (vua Vô Tránh Niệm) thành Phật hiệu A Di Đà ở thế giới Cực Lạc thì con sẽ làm thị giả hầu hạ Ngài cho đến khi Chánh Pháp Ngài tận diệt con mới chứng quả Bồ đề. Con nguyện xin Đức Thế Tôn và mười phương chư Phật thụ ký cho con như vậy”.

Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho thái tử và nói rằng: “Do quán sát chúng sinh trong vô số thế giới đều vì tội nghiệp mà phải chịu quả báu đau khổ nên ngươi phát bi tâm, ngươi lại nguyện quan sát nghe được tiêng kêu cầu đau khổ của thế gian để đến cứu độ. Nay ta thọ ký cho ngươi hiệu là Quán Thế Âm. Ngươi sẽ giáo hoá cho vô lượng chúng sinh thoát khỏi khổ não, trong khi tu đạo, ngươi phải làm mọi Phật sự để lợi ích chúng sinh”.

Sau khi được thọ ký, Thái Tử lòng vô cùng hoan hỷ và bạch rằng: “Như lời nguyện của con được hoàn toàn viên mãn thì đối với con còn hạnh phúc nào bằng. Nay con xin nguyện mười phương chư Phật cũng thọ ký cho con như thế, làm cho tất cả thế giới đều rung chuyển như tiếng âm nhạc, ai nghe cũng được giải thoát”. Thái tử bạch rồi, cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

Quán Thế Âm là Phật hay Bồ Tát

Theo Kinh Đại bi Tâm Đà Ra Ni, đức Phật Thích Ca nói rằng trong vô lượng kiếp về trước, Quán Thế Âm Bồ Tát đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Vì nguyện lực đại bi, phát khởi duyên cho tất cả các hàng Bồ Tát, muốn an vui cho chúng sinh nên ngài mới hiện thân làm Bồ Tát. Danh hiệu là Quán Thế Âm Bồ Tát, trụ ở thế giới Ta Bà, đồng thời là thị giả trợ tuyên chánh pháp cho Đức Phật A Di Đà ở  cõi Tây phương Cực Lạc.

Ý nghĩa và các tên gọi khác của Quán Thế Âm Bồ Tát

Quán Thế Âm Bồ Tát nghĩa là gì?

  • Quán là quán xét, thấy nghe, biết đối tượng thật rõ ràng
  • Thế là cõi đời, cỏi hữu tình thế gian.
  • Âm là tiếng niệm, tiếng kêu cứu, tiếng cầu nguyện từ mọi nơi đau khổ phát ra.
  • Bồ Tát là độ thoát cho loài hữu tình, cứu thoát, giác ngộ cho tất cả các loài chúng sinh có tình cảm được vượt thoát ra khỏi khổ đau ách nạn.

Quan Thế Âm Bồ Tát theo tiếng Phạn là Avalokitesvara nghĩa là Ngài nghe tiếng kêu thầm kín thiết tha từ tâm khảm chúng sanh trong thế gian mà đến cứu khổ. Đem an lạc từ bi tâm vô lượng không phân biệt dến với mọi loài. Đây chẳng khác nào tình yêu thương trìu mến vô biên gấp muôn vạn lòng dạ của người mẹ hiền ở thế gian nên còn được gọi là mẹ Quán Thế Âm.

Các tên gọi khác của Quán Thế Âm Bồ Tát

Trong Bát Nhã Tâm Kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát còn mang tên là Quán Tự Tại Bồ Tát bởi phương thức tu tập nhiệm mầu nhờ quán chiếu mà được tự tại, giải thoát. Ngài nhận thấy năm uẩn không có tự tính và đều là giả tạm, ngộ ra được điều đó, ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn. Bồ Tát Quán Thế Âm còn được biết đến với tên gọi Quan Âm Bồ Tát, Bồ tát Từ Hàng hay Từ Hàng Đại sĩ.

Ý nghĩa hình ảnh tượng Quan Âm

Quán Thế Âm Bồ Tát là nam hay nữ?

Nhiều người thắc mắc Quán Thế Âm Bồ Tát là nam hay nữ? Tùy theo nhu cầu thiết yếu của chúng sanh mà ngài tùy duyên thị hiện để cứu độ. Ngài hiện vô số thân lúc là đồng nam, có lúc là đồng nữ , cho tới trưởng giả … Vậy tại sao hầu hết hình tượng Quan Âm thờ tại các chùa đều tạc hình người nữ? Có lẻ đây là hình ảnh gần gữi nhất để tượng trưng cho lòng thương không bờ bến của Ngài, là bà Mẹ hiền trong tất cả các bà mẹ hiền. Hình tượng mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát cũng bắt nguồn từ ý nghĩa này.

Các hình tượng Quan Âm phổ biến và ý nghĩa.

Tượng Phật Quan Âm đứng trên tòa sen, tay trái cầm bình cam lồ, tay phải cầm cành dương liễu hoặc bắt ấn. Nước cam lồ biểu trưng cho lòng từ bi, rưới tới đâu là chan rải tình thương tới đó, làm mát mẻ, xoa dịu mọi khổ đau của chúng sanh. Tượng mẹ Quan Âm ngự trên đài sen là một ý nghĩa tượng trưng siêu thực. Hoa sen mọc từ vũng bùn nhơ nhớp, mà vẫn tỏa ra mùi hương thanh khiết, đó là đặc tính không thể tìm được trong các loài hoa khác. Hoa sen được biểu thị cho đức tánh thanh tịnh và giải thoát, là loài hoa tượng trưng cho Phật giáo.

Tượng Phật Quan Âm bằng đá 4m
Tượng Phật Quan Âm bằng đá 4m

Tại nhiều chùa có thờ tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay còn gọi là tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn. Tay là tượng trưng cho từ bi, do từ bi mà phát xuất vô lượng phương tiện để cứu độ chúng sanh. Mắt là tượng trưng cho trí tuệ, trí tuệ sáng suốt ngộ nhập chân lý và quán xét căn cơ của muôn loài để đưa họ về nơi bến giác.

Tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn
Tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay

Theo Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, tượng Phật Quan Âm Bồ Tát có 32 ứng hóa thân là thân Phật, Bích Chi (Duyên Giác), Thinh Văn, Phạm Vương, Đế Thích, Đại Tự Tại Thiên, Đại Tự Tại, Thiên Đại Tướng Quân, Tỳ Sa Môn, Tiểu Vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la–môn, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Phụ nữ, Đồng nam, Đồng nữ, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân, Thần chấp Kim Cang.

Những hình ảnh tượng Quan Âm Bồ Tát trên đều thể hiện ý nghĩa cao đẹp của Ngài và của chân lý nên được thờ bái rộng rãi.

33 hiện thân của tượng Phật Quan Thế Âm Bồ Tát

Sau này lại có thêm 33 hóa thân khác của tượng Phật Quan Âm. Những hóa thân này không dựa vào Kinh sách mà chỉ dựa vào tư tưởng hóa độ lục đạo kết hợp với tín ngưỡng dân gian mà tạo thành, bao gồm:

  • 1) Dương Liễu Quan Âm: Còn gọi là Dược Vương Quan Âm, Ngài có bổn nguyện là bạt trừ cứu độ những bệnh khổ của chúng sanh, vì chúng sanh thân nhiều khổ nạn. Cành dương liễu mềm mại biểu trưng cho đức tướng ôn hòa nhẫn nhục của Quan Thế Âm Bồ Tát. Thân người mặc y màu trắng ngà, hình tượng Quan Âm này biểu hiện sự kỳ nguyện phước đức.
  • 2) Long Đầu Quan Âm: là hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát ngồi trên lưng rồng. Rồng là là loài vật linh thiêng để biểu thị cho uy lực của Quan Âm Bồ tát. Long Vương đến mang mây mưa làm tươi tốt khắp trời đất, thấm nhuần muôn vật, tất cả đều tán thán uy lực của Long vương. Tượng Quan Âm với tư thế ngồi kết già trên mình rồng thuyết pháp cho chúng sanh.
  •  3) Trì Kinh Quan Âm: còn gọi là Thanh Văn Quan Âm. Thanh Văn là nghe Phật thuyết pháp được khai ngộ mà xuất gia. “người đáng dùng thân Thanh Văn được độ thoát Ngài liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp”. Hình tượng Quan Âm này biểu hiện sự an tường.
  •  4) Viên Quang Quan Âm: là hình tượng Quan Âm Bồ Tát của lòng từ ái viên mãn, biểu trưng bằng ánh quang minh quanh thân. “sáng thanh tịnh không nhơ, huệ nhựt phá các tối, hay tiêu tai khói lửa, khắp soi sáng thế gian”. Thân Ngài được cảm thọ qua đoạn kinh này, hiện tướng thuyết pháp.
  •  5) Du Hý Quan Âm: Là hình tượng mẹ Quan Âm giáo hóa chúng sanh viên thông vô ngại, không câu nệ vào thời gian và nơi chốn, biểu hiện tướng du hý tự tại. Thân Ngài màu hồng, Ngài ngước nhìn chăm chú chúng sanh.
  •  6) Bạch Y Quan Âm: còn gọi là Bạch Y Quán Tự Tại Mẫu. Toàn thân mặc y trắng, ngồi kết già trên hoa sen trắng, đầu đội khăn, tay trái cầm hoa sen, tay phải kết dữ nguyện ấn. Màu trắng biểu ý Thanh Tịnh và Tâm Bồ đề, mọi người lễ bái Ngài để cầu tiêu tai, trường thọ.
  •  7) Liên Ngọa Quan Âm: là hình tượng Quan Âm ứng hiện tọa ngọa trên lá sen. Ngài hiện thân Tiểu Vương trong phẩm Phổ Môn, để thí dụ cho thân Tiểu Vương tôn quý ngồi trên lá sen. Hình mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát được thể hiện ngồi kết già hiệp chưởng, đầu đội mão hoa, hiện tướng từ bi nhu hòa, cổ đeo anh lạc, mặc thiên y, bi nhãn nhìn chúng sanh.
  •  8) Lang Kiến Quan Âm: hay gọi là Phi Bộc Quan Âm. Nước tuy mềm mại nhưng có thể đối trị sự cứng chắc của đá, nước chảy đá mòn. Sức nước chảy xuống rất lớn, có thể chảy thành sâu rộng. Hình ảnh tượng Quan Âm Bồ Tát ngồi nhìn dòng thác, nhưng tâm tư Ngài như tinh thần của dòng nước.
  •  9) Thí Dược Quan Âm: ngoài việc trị bệnh khổ về thân và tâm cho chúng sanh, Quan Thế Âm Bồ tát còn ban bố cho họ lương dược. Bài kệ trong phẩm Phổ Môn ghi rằng: “Quan Âm bậc Tịnh Thánh, nơi khổ não nạn chết, hay vì làm nương cậy”. Hình tượng mẹ Quan Âm nhìn hoa sen cảm thương chúng sanh nhiều bệnh khổ.
  •  10) Ngư Lam Quan Âm: là hình tượng Quan Thế Âm tay cầm giỏ cá và nhánh lá. Tích truyện có một con sông không có cầu, người qua sông rất khó khan, vát vả. Ngài hóa thân thành mỹ nữ bán cá kén chồng nếu ai ném được nhiều tiền vào giỏ, còn ném ra ngoài thì phải bỏ tiền đó xây cầu. Kết quả tiền chất thành đống che khuất không còn nhìn thấy Ngài, khi nhìn lại thì mọi người thấy Ngài hóa thân đứng trên sông.
  •  11) Đức Vương Quan Âm: trong phẩm Phổ Môn chép rằng: “người đáng dùng thân Phạm Vương đặng độ thoát, Ngài liền hiện thân Phạm Vương mà vì đó nói pháp”. Phạm Vương là chủ cõi trời sắc giới, công đức rất lớn, còn được gọi là Đức Vương. Hình tượng Phật Quan Âm được dân gian khắc họa đầu đội bảo quan, ngồi kết già, tay phải cầm nhánh lá, tay trái để trên đầu gối.
  •  12) Thủy Nguyệt Quan Âm: chính là Thủy Cát Tường Quan Thế Âm Bồ tát trong Thai Tạng Mạn trà la, mật hiệu của Ngài là Nhuận Sanh Kim Cang, Quan Âm Bồ tát nhất tâm quán thủy tướng, nhập thủy định. Vì vậy hình ảnh của Ngài ngồi kết già trên hoa sen nổi trong đại hải, tay trái cầm hoa sen, tay phải kết thí vô úy ấn, trong lòng bàn tay chảy xuống một dòng nước có hình mặt trăng nên gọi là Thủy Nguyệt Quan Âm.
  •  13) Nhất Diệp Quan Âm: xưng danh hiệu Quan Thế Âm Bồ tát khi bị nước lớn cuốn trôi, liền được đến chỗ cạn. Có thể thấy hình tượng mẹ Quan Âm ngồi trên hoa sen nổi trên mặt nước, ngắm nhìn nước tâm suy nghĩ sâu sắc đến nơi tối tăm không ánh sáng (địa ngục).
  •  14) Thanh Cảnh Quan Âm: Nhũ Hải bị khuấy động khi có các vị thần muốn tìm lấy nước cam lồ, nhưng lại phát hiện trong biển có lọ thuốc độc. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát  liền uống hết lọc thước độc do sợ hại chúng sanh, vì vậy mà cổ Ngài biến thành màu xanh. Hình tượng Phật bà Quan Âm được khắc họa với tay trái cầm hoa sen, lòng bàn tay phải hướng lên trên, ngồi kết già trên bệ đá.
  •  15) Uy Đức Quan Âm: Ngài có đầy đủ uy đức để chiết phục và hộ trì chúng sanh. Trong phẩm Phổ Môn có đoạn: “người đáng dùng thân Thiên Đại Tướng Quân đặng độ thoát, Ngài liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà vì đó thuyết pháp”. Thiên Đại Tướng Quân có đầy đủ uy đức nên được gọi là Uy Đức Quan Âm. Hình tượng Phật Quan Âm hiện lên với tay trái cầm kim cang xử biểu hiện uy thế để chiết phục tâm cang cường của chúng sanh, tay phải cầm hoa sen ngồi trên bệ đá.
  •  16) Diên Mạng Quan Âm: là Quan Thế Âm Bồ tát bảo hộ thọ mạng chúng sanh. Phẩm Phổ Môn chép: “nguyền rủa các thuốc độc, muốn hại đến thân đó, do sức niệm Quan Âm, trở hại nơi bổn nhơn”. Tên gọi Diên Mạng Quan Âm do Ngài có thể tiêu trừ chú thuật nguyền rủa và độc dược thêm tuổi thọ. Ngài được khắc họa là hình tượng Phật Quan Âm đội bảo quan, mặc Thiên y, anh lạc trang nghiêm, 20 cánh tay để dìu dắt và cứu hộ chúng sanh.
  •  17) Chúng Bảo Quan Âm: là hình tượng Quan Âm Bồ Tát tay cầm vàng bạc vật báu. Khi có người tìm báu vật mà phải vào trong thâm sơn đại hải, bị  trôi dạt đến nước quỷ La Sát, nếu xưng danh hiệu Ngài, thì đều được giải thoát. Đây là hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát biểu trưng cho sự an ổn.
  •  18) Nham Hộ Quan Âm: là hình tượng mẹ Quan Âm ngồi trong hang đá. phẩm Phổ môn chép: “Rắn độc cùng bò cạp, hơi độc khói lửa đốt, do sức niệm Quan Âm, theo tiếng tự bỏ đi”. Quan Thế Âm hiện ra để tiêu trừ hết chướng khí và trùng độc, nguy hiểm  trong hang động cho người qua núi được an toàn. Hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát hiệp chưởng tĩnh tọa trên hoa sen, trong hang hiểm tối tăm hiện ra ánh sáng.
  •  19) Năng Tĩnh Quan Âm: Ngài cứu giúp thủ hộ những người gặp, trôi dạt biển lớn, các nạn quỷ cá rồng. Nhờ sức niệm Quan Âm, sóng mòi chẳng chìm đặng, Ngài là thần thủ hộ trên biển. Hình tượng Phật Quan Âm này biểu hiện tướng tĩnh lặng.
  •  20) A Nậu Quan Âm: Hình Quan Âm Bồ tát được khắc họa ngồi trên bệ đá quán sát mọi động tĩnh của đại hải. Thệ nguyện của Ngài như bài kệ:“ông nghe hạnh Quan Âm, khéo ứng các nơi chỗ, thệ rộng sâu như biển, nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn”. Hình ảnh tượng Quan Âm Bồ Tát với đầu búi tóc thiên kế, mặc Thiên y màu vàng, tay trái cầm mảnh y trước bụng, tay phải thả trên gối phải, mắt nhìn đại hải. Bổn nguyện của Ngài là tiêu trừ những hiểm nạn trên biển. làm cho tất cả định tĩnh không còn tai ương.
  •  21) Vô Úy Quan Âm: Hình tượng Quan Âm rất đặc thù có ba mắt bốn tay, ngồi trên lưng sư tử trắng, đội bảo quan, hai tay bên phải, một tay cầm hoa sen trắng, một tay cầm con chim cát tường trắng; hai tay bên trái, một tay cầm pháp khí hình con phượng 3 đầu, một tay cầm con cá. Khắp thân Ngài có ánh sáng, mặc thiên y đeo anh lạc, diên mạo rất đoan nghiêm.
  •  22) Diệp Y Quan Âm: Ngài hiện thân Thiên nữ, đầu đội bảo quan có hóa thân Vô Lượng Thọ Phật. Quanh thân Ngài có vòng lửa, ánh sáng trong suốt khắp thân. Ngài có bốn tay, hai tay bên phải, một tay cầm quả cát tường để trước ngực, một tay kết thí nguyện ấn; hai tay bên trái, một tay cầm rìu, một tay cầm sợi dây, ngồi trên hoa sen. Ngài là hình tượng mẹ Quan Âm của nông dân cầu nông cụ và cầu không bệnh dịch, tai nạn, trùng độc.
  •  23) Lưu Ly Quan Âm: Thời Bắc Ngụy có quan trấn giữ biên cương là Tôn Kính Đức, ông tạc tượng Phật Quan Âm để tôn thờ. Khi bị Di Địch bắt, Ông được thầy Sa Môn báo mộng, dạy phải trì tụng một ngàn biến kinh “Diên Mạng Thập Cú Quan Âm”. Vì thế lúc bị tử hình, ba lần chém ông nhưng không chút thương tích, nên ông được tha chết. Hình tượng Quan Âm được khắc họa cầm bình lưu ly xanh, đứng trên cánh hoa sen du hóa trên mặt nước.
  •  24) Đa La Quan Âm: Ngài dùng vật báu vô giá trang nghiêm thân, tiêu trừ khổ não cho chúng sanh, mọi chúng sanh đều an vui vào pháp giới chư Phật. Ngài hiện thân nữ nhân, tướng mạo từ bi, mặc y trắng, hai tay hiệp chưởng cầm hoa sen xanh; quanh thân có hào quang thanh tịnh, đầu búi tóc. Trước ngực tượng Quan Âm đeo anh lạc ngồi trên bệ đá ngắm nhìn chúng sanh.
  •  25) Cáp Lỵ Quan Âm: Vua Đường Văn Tông rất thích ăn thịt con hàu, một ngày nọ bắt gặp một con sò lớn, vua dùng dao mổ mà vẫn không mở được vỏ sò. Nhà vua mới đốt hương cầu nguyện, con sò hóa thành Quan Âm Đại Sĩ. Nhà Vua triệu vị thiền sư đến nói:” người đáng dùng thân đặng được độ, thì hiện thân này mà nói pháp. Hiện thân Đại Sĩ là việc hy hữu không tin hay sao”. Nhà vua vui mừng liền ban chiếu cho chùa chiền trong khắp thiên hạ tạc tượng Đại Sĩ để tôn thờ.
  •  26) Lục Thời Quan Âm: là vị Quan Thế Âm Bồ Tát ngày đêm từ bi thủ hộ chúng sanh. Ở miền Bắc Ân Độ thời xưa một ngày đêm hay một năm đều chia làm sáu thời là: “nắng ít, nắng nhiều, mưa, mát, lạnh ít, lạnh nhiều”; Do đó mà nói thành “Quan Thế Âm thường trông chúng sanh”.
  •  27) Phổ Bi Quan Âm: La hình tượng mẹ Quan Âm từ bi, yêu thương tất cả chúng sanh, khắp trong tam thiên đại thiên thế giới. “Người đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp”. Vì lòng từ bi và uy đức của Ngài rất lớn phổ chiếu tất cả tam giới nên được gọi là Phổ Bi Quan Âm.
  •  28) Mã Lang Phụ Quan Âm: Tích truyện vào đời Đường, có một mỹ nhân kén chồng với yêu cầu một đêm nếu đọc thuộc được phẩm Phổ Môn sẽ lấy làm chồng, đêm ấy có hai mươi người thuộc. yêu cầu tiếp theo là một đêm tụng trọn bộ kinh Kim Cang, đêm ấy còn lại mười người.Cuối cùng là sau ba ngày có thể tụng thuộc Kinh Pháp Hoa, trong số đó chỉ còn lại một người họ Mã vượt qua. Ngày kết hôn, cô gái bỗng dưng chết và biến thành ánh sáng bay lên không trung. Hình tượng Phật Quan Âm cầm quyển Kinh Pháp Hoa và cây gậy có hình đầu lâu.
  •  29) Hiệp Chưởng Quan Âm: là hình tượng Phật Bà chắp tay kính lễ biểu thị tu thiện tích đức. Nếu chúng sanh nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm hồng danh Ngài liền được ly dục. Nếu người nhiều sân nhuế, thường cung kính niệm hồng danh Ngài liền được ly sân. Nếu người nhiều ngu si, thường cung kính niệm hồng danh Ngài liền được ly si.Tâm không vô niệm liền hiển hiện cảnh giới tam muội. Hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát mặc y trắng chấp tay ngồi trên bệ đá.
  •  30) Nhất Như Quan Âm: Là hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát cưỡi mây bay trong hư không chinh phục lôi điện sấm sét. Phẩm Phổ Môn chép: “mây sấm nổ sét đánh, tuông giá xối mưa xuống, do sức niệm Quan Âm, liền đặng tiêu tan cả”. Nhất như có nghĩa là bất nhị, bất dị; Bất Nhị Bất Dị là Chơn Như. Chơn Như là sự sự vô ngại biến mãn khắp pháp giới. Quan Âm diệu trí lực chính là pháp quán nhất như.
  •  31) Bất Nhị Quan Âm: là biểu tượng bổn và tích bất nhị của Quan Thế Âm Bồ Tát. Phẩm Phổ Môn chép: “người đáng dùng thân chấp kim cang Thần đặng độ thoát, liền hiện Chấp Kim Thần mà vì đó nói pháp. Quan Thế Âm là vị thủ hộ cho Phật, cũng là ứng hóa thân của Phật, vì bổn và tích đều chẳng phải hai nên gọi là Bất Nhị Quan Âm. Hình tượng Phật Quan Âm ngồi trên bệ đá hai tay chấp trì kim cang xử.
  • 32) Trì Liên Quan Âm: Là vị Quan Âm Bồ Tát tay cầm hoa sen. Quan Thế Âm lấy hoa để biểu trưng cho bổn thệ, vì cầm hoa sen đã nở hay chưa nở nên còn gọi là liên hoa thủ. Vì hoa sen có nhiều nhân duyên đặc thù nên cũng lấy hoa sen làm đài. Hình tượngPhật Quan Âm đứng trên lá sen, hai tay cầm hoa sen, đầu đội bảo quan, mặc thiên y, viên mãn trang nghiêm.
  •  33) Sái Thủy Quan Âm: là hình tượng Phật bà Quan Thế Âm đứng trên tường vân tay cầm chén nước rưới xuống. Lòng bi răn như sấm, ý từ diệu dường mây, như mưa pháp cam lộ, đoạn trừ lửa phiền não. Sái thủy là rưới một loại nước thơm, là pháp tu tụng niệm gia trì làm cho thanh tịnh. Đây là bổn thệ của Quan Thế Âm Bồ Tát để khai ngộ Phật tánh của tất cả chúng sanh.

Các ngày vía mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát

Hằng năm các chùa và quý Phật tử thường làm lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát thật trang nghiêm vào các ngày : 19/2, 19/6 và 19/9 ( Âm lịch).

  • Ngày 19/2 là vía QUAN THẾ ÂM ĐẢN SANH
  • Ngày 19/6 là vía QUAN THẾ ÂM THÀNH ĐẠO
  • Ngày 19/9 là vía QUAN THẾ ÂM XUẤT GIA

Top những mẫu tượng Phật Quan Âm đẹp nhất

Tượng Quan Âm đẹptượng Quan Âm trước hết phải được làm từ một viên đá tốt. Đá tự nhiên, nguyên khối, chất đá mịn, đông đặt không dập nứt, sứt mẻ. Tượng Quan Âm đẹp đòi hỏi khuôn mặt phải có hồn, thanh thoát, toát lên vẻ từ bi, hỷ xã đúng với tinh thần Phật giáo. Các đường nét của pho tượng Quan Âm phải sắc nét, tỷ lệ cân đối hài hòa, đồng thanh đồng thủ. Hãy cùng ngắm nhìn những mẫu tượng Quan Âm đẹp nhất do cơ sở đá mỹ nghệ Thành Đô chế tác.

Quý Phật tử có thể ngắm nhìn hình ảnh Bồ tát Quan Thế Âm bằng cách thỉnh tượng Quan Âm về thờ tại gia. Bởi đối với người Phật tử, ngoài việc lên chùa để lạy Phật, nghe Pháp và tụng Kinh thì việc lập bàn thờ Phật tại gia có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tu hành tinh tấn của mỗi người. Gọi ngay 090 469 7999 để thỉnh những pho tượng Quan Âm đẹp nhất, vừa ý nhất.

Tại sao lại chọn tượng Phật Quan Âm bằng đá

Có câu “Nhất đá, nhì đồng, tam sành, tứ mộc”, vốn tính sắc nét, độ thẩm mỹ cao cùng độ cứng, bền đẹp trường tồn theo thời gian. Chất liệu đá luôn là lựa chọn số 1 trong ngành điêu khắc mỹ nghệ. Tượng Phật Quan Âm bằng đá sẽ trường tồn theo thời gian, không chịu ảnh hưởng, tác dộng của nắng mưa. Tượng Quan Âm bằng đá khi hoàn thành đã được mài nhẵn, bóng loáng nên không sợ bám rêu mốc, khi bị bụi bẩn chỉ cần lau chùi qua là sạch sẽ như mới. Đặc biệt người thỉnh tượng sẽ không mất thời gian, chi phí để tu sửa, bảo tồn tượng hàng năm.

Thỉnh tượng Phật Quan Âm ở đâu? Địa chỉ thỉnh tượng Quan Âm uy tín, chất lượng

Tượng Phật đá Non Nước

Nói đến lĩnh vực điêu khắc tượng Phật, chắc hẳn bạn đã từng nghe đến danh tiếng của làng đá mỹ nghệ Non Nước Đà Nẵng. Với bề dầy lịch sử gần bốn thế kỷ hình thành, làng đá Non Nước là nơi tập trung những nghệ nhân lão luyện, lành nghề và tâm huyết nhất. Sản phẩm đá Non Nước rất phong phú đa dạng về mẫu mã, kích thước cùng với đó là độ tinh xảo, chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao. Vị thế của làng đá Non Nước Đà Nẵng không chỉ biết đến trong nước mà còn nổi tiếng trên toàn thế giới.

Riêng về điêu khắc tượng phật bằng đá, đây là lĩnh vực thế mạnh của làng đá Non Nước. Chỉ có những người thợ đá Non Nước mới tạc nên những pho tượng thật sự có hồn. Chính vì thế mà hầu hết các Phật tử, chùa chiền đều chỉ thỉnh tượng Phật đá Non Nước.

Địa chỉ thỉnh tượng Quan Âm tốt nhất.

Tự hào kế thừa và phát huy truyền thống của cha ông, cơ sở đá mỹ nghệ Thành Đôcơ sở điêu khắc đá tốt nhất, uy tín chất lượng nhất của làng đá Non Nước Đà Nẵng. Chúng tôi là xưởng điêu khắc trực tiếp sản xuất nên đảm bảo sản phẩm có giá gốc tại xưởng, không qua kinh doanh môi giới nên giá cả rẻ nhất thị trường.

Là cơ sở lâu năm trong nghề, chúng tôi hiểu rõ giá cả tốt phải đi đôi với chất lượng hàng đầu. Chính vì thế khâu lựa chọn đá làm tượng luôn diễn ra rất kỹ càng, cẩn thận. Chât liệu đá phải mịn, đông đặc, đều màu không bị dập nứt, đá tự nhiên nguyên khối. Đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ, muốn có một pho tượng hoàn hảo thì còn cần có những nghệ nhân lành nghề và đặc biệt có Tâm. Với đội ngũ nghệ nhân hùng hậu, tay nghề cao, đá mỹ nghệ Thành Đô tự tin đảm bảo tạc nên những pho tượng hoàn hảo thật sự có hồn, đảm bảo mọi tiêu chí, yêu cầu của khách hàng.

Còn chần chừ gì nữa mà không gọi ngay 090 469 7999 để thỉnh những pho tượng Phật đá Non Nước đẹp nhất, chất lượng nhất. Đừng quên trải nghiệm những tiện ích tối ưu của đá mỹ nghệ Thành Đô, chúng tôi có

  • Nhận đặt hàng theo yêu cầu ( kích thước, mẫu mã).
  • Chất lượng sản phẩm tốt nhất.
  • Giá cả rẻ nhất thị trường.
  • Vận chuyển nhanh chóng, an toàn.
  • Lắp đặt tận nơi, miễn phí.

Liên hệ đặt tượng: Cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Thành Đô

  • Xưởng sản xuất: Lô 35 -36 Đường Quán Khái 12, Phường Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng.
  • Trưng bày: 135 -137 Huyền Trân Công Chúa , Phường Hòa Hải, Quận Ngũ Hành Sơn, Thành Phố Đà Nẵng.
  • Điện thoại : 090 469 7999
  • Email: thanhnv@danagold.vn